| Chương 4. Ngành Lập pháp |
|
|
|
| Dự thảo Hiến pháp 7 | ||||||||||||||
| Viết bởi Ban biên tập | ||||||||||||||
| Thứ hai, 22 Tháng 6 2009 09:00 | ||||||||||||||
|
ĐIỀU 1: QUYỀN HẠN CỦA NGÀNH LẬP PHÁP Phần 1: Tất cả quyền hành Lập pháp quy thuộc về Quốc hội, bao gồm Thượng viện và Hội đồng Quốc gia. Quốc hội phải tuân thủ triệt để Bản Hiến pháp trong nhiệm vụ lập pháp. Phần 2: Mỗi thành viên Quốc hội sẽ có một phiếu trong mỗi vấn đề được bầu trong Viện mà vị này đang phục vụ. Các thành viên Quốc hội phải tự bầu trực tiếp, và phiếu bầu được công bố công khai. Phần 3: Thượng viện và Hội đồng Quốc gia đều có quyền bắt đầu tiến trình truất nhiệm Tổng thống bởi một đa số phiếu. Vị Tối Thượng Thẩm phán phải được thông báo ngay sau khi đa số phiếu truất nhiệm được thông qua. Trong vòng 7 ngày, tiến trình truất nhiệm sẽ bắt đầu hoạt động và sẽ kéo dài không quá 7 ngày. Phần 4: Lá phiếu truất nhiệm Tổng thống phải được bầu bởi mọi thành viên Quốc hội. Một đa số từ 2/3 trở lên là cần thiết để thông qua. Nếu không có được đa số này thì việc truất nhiệm cho cùng một vấn đề sẽ không được bắt đầu lại trong vòng một năm sau ngày bỏ phiếu truất nhiệm. Phần 5: Phán quyết trong trường hợp truất nhiệm Tổng thống sẽ không vượt quá việc buộc rời khỏi chức vụ, và mất quyền phục vụ trong mọi văn phòng có tính danh dự, trọng tín nghĩa và có lợi nhuận tại Việt Nam. Vị Tổng thống bị truất nhiệm sẽ không chịu trách nhiệm và không là mục tiêu cho các cuộc tố cáo, định tội, và trừng phạt khác. ĐIỀU 2: ĐIỀU LỆ CỦA NGÀNH LẬP PHÁP Phần 1: Thượng viện, trước khi bắt đầu làm việc, phải chọn trong số các Thượng Nghị sĩ một vị làm Phát Ngôn Viên Thượng viện, và khi vị này vì lý do nào đó phải từ chức thì Thượng viện sẽ chọn ra một vị khác làm việc này. Phần 2: Khi một Thượng Nghị sĩ muốn từ chức, vị này phải thông báo cho Phát Ngôn Viên Thượng viện biết. Nếu Phát Ngôn Viên Thượng viện muốn từ chức, vị này phải thông báo cho toàn bộ Thượng viện biết. Phần 3: Ghế Thượng Nghị sĩ có thể bị bỏ trống nếu một Thượng Nghị sĩ nào đó vắng mặt 61 lần bỏ phiếu trở lên trong nhiệm kỳ. Trong vòng 30 ngày, thành phố mà vị đó đại diện phải gởi lên cho Thượng viện một Thượng Nghị sĩ khác, nếu không ghế này sẽ để trống đến kỳ Tổng Tuyển cử sau. Phần 4: Thượng viện sẽ tự tổ chức các Ủy ban và bầu ra các Chủ tịch các Ủy ban này, theo phiếu bầu đa số. Phần 5: Hội đồng Quốc gia, trước khi bắt đầu làm việc, phải chọn trong số các Dân biểu một vị làm Phát Ngôn Viên Hội đồng Quốc gia, và khi vị này vì lý do nào đó phải từ chức thì Hội đồng Quốc gia sẽ chọn ra một vị khác làm việc này. Phần 6: Khi một Dân biểu muốn từ chức, vị này phải thông báo cho Phát Ngôn Viên Hội đồng Quốc gia biết. Nếu Phát Ngôn Viên Hội đồng Quốc gia muốn từ chức, vị này phải thông báo cho toàn bộ Hội đồng Quốc gia biết. Phần 7: Ghế Dân biểu có thể bị bỏ trống nếu một Dân biểu nào đó vắng mặt 31 lần bỏ phiếu trở lên trong nhiệm kỳ. Trong vòng 30 ngày, thành phố mà vị đó đại diện phải gởi lên cho Hội đồng Quốc gia một Dân biểu khác, nếu không ghế này sẽ để trống đến kỳ Tổng Tuyển cử sau. Phần 8: Hội đồng Quốc gia sẽ tự tổ chức các Ủy ban và bầu ra các Chủ tịch các Ủy ban này, theo phiếu bầu đa số. ĐIỀU 3: LƯƠNG BỔNG VÀ ĐẶC QUYỀN CỦA NGÀNH LẬP PHÁP Phần 1: Không một Thượng Nghị sĩ hoặc Dân biểu nào trong thời gian nhiệm chức được quyền giữ thêm bất cứ chức vụ dân sự hoặc công quyền nào khác, hoặc nhận bất cứ lương bổng nào ngay cả cho các sự phục vụ dân sự hoặc công quyền trước khi được bầu vào chức vụ. Các lương bổng này phải được bỏ vào một quỹ phó thác, và được giao lại cho đương sự mười năm sau khi rời chức vụ. Nếu đương sự rời chức vụ do bị truất nhiệm, số lương bổng này sẽ được sử dụng cho lợi ích công cộng. Phần 2: Không một Thượng Nghị sĩ hoặc Dân biểu nào được nhận bất cứ chức vụ hoặc bất cứ lương bổng nào trong lãnh vực dân sự trong vòng mười năm sau khi thôi chức vụ tại Quốc hội. Trong thời gian mười năm này, các vị này sẽ nhận 65% lương bổng theo trị giá lương nhận được lần cuối tại Quốc hội. Phần 3: Không một Thượng Nghị sĩ hoặc Dân biểu nào trong thời gian nhiệm chức và trong mười năm sau khi rời nhiệm sở được phép nhận bất cứ món quà, lương bổng, chức vụ, danh hiệu, từ bất cứ cá nhân hoặc bất cứ quốc gia nào. Một vài ngoại lệ đặc biệt có thể được cho phép trong từng trường hợp, và phải do phiếu bầu đa số tại nhiệm sở họ đang phục vụ. Phần 4: Không một Thượng Nghị sĩ hoặc Dân biểu nào, ngoại trừ trường hợp phản quốc hoặc trọng tội, bị cấm phát biểu ý kiến tại diễn đàn nhiệm sở họ đang phục vụ. Phần 5: Một vị Thượng Nghị sĩ hoặc Dân biểu chỉ có thể bị truất nhiệm bằng một trong hai cách: (1) bằng 2/3 số phiếu đồng ý truất nhiệm bởi dân chúng trong thành phố họ, hoặc (2) bởi 2/3 số phiếu đồng ý truất nhiệm bởi các Thượng Nghị sĩ hoặc Dân biểu nơi họ đang phục vụ. Phần 6: Phó Tổng thống sẽ là Chủ tịch Thượng viện, nhưng không được bỏ phiếu trừ khi có số phiếu Thuận và Chống bằng nhau. Phần 7: Thủ tướng sẽ là Chủ tịch Hội đồng Quốc gia, nhưng không được bỏ phiếu trừ khi có số phiếu Thuận và Chống bằng nhau. Phần 8: Không một nhân vật Quốc hội nào có thể bị truy tố, điều tra, bắt, giam giữ hoặc xử tội vì các ý kiến đưa ra hoặc phiếu bầu trong khi thi hành nhiệm vụ. Phần 9: Trong khi các nhân vật Quốc hội còn trong nhiệm kỳ, tất cả các tố tụng dân sự chống lại họ đều không được xem xét cho đến khi họ phục vụ xong nhiệm kỳ. Các giới hạn thời gian tố tụng được ngưng lại trong thời gian họ còn trong nhiệm kỳ. Phần 10: Việc miễn nhiễm được nhắc đến trong Phần 10 trên đây không áp dụng cho các cuộc tố tụng hình sự, khi đó nhân vật Quốc hội có thể được tạm ngưng chức vụ theo một đa số phiếu bầu trong Viện vị đó đang phục vụ, ngõ hầu vị này có thể chống lại cuộc tố tụng. Nếu được trắng án, vị này có thể trở lại làm việc nếu vẫn còn nhiệm kỳ. Nếu bị xét thấy có tội và bị phạt tù thì vị này phải từ chức. Phần 11: Các Thượng Nghị sĩ và Dân biểu phải là công dân Việt Nam, ít nhất 30 tuổi, và không cần phải từng sống trong thành phố họ đang đại diện.
Powered by !JoomlaComment 4.0alpha3
!joomlacomment 4.0 Copyright (C) 2009 Compojoom.com . All rights reserved." |
||||||||||||||