hienphapvietnam.org & tanhienphap.org

Thư Liên Bang Số 52 PDF. In Email
Thư Liên Bang Hoa kỳ
Viết bởi Ban biên tập   
Thứ năm, 30 Tháng 7 2009 10:16

Hạ Nghị Viện

James Madison

Gởi dân chúng của tiểu bang Nữu Ước,

Từ những câu hỏi tổng quát đã theo đuổi trong 4 lá thư trước, tôi muốn nêu lên một xem xét tỉ mỉ hơn về một vài bộ phận khác nhau trong chính phủ. Tôi xin được bắt đầu với Hạ Nghị Viện.

Phần xem xét đầu tiên cho bộ phận này của chính phủ có liên quan đến những tư cách khả năng của những cử tri và những đắc cử viên.

Những cử tri của trong Hạ Nghị Viện của chính quyền Liên Bang sẽ giống như những cử tri trong bộ lập pháp của Tiểu Bang. Định nghĩa của quyền đi bầu cử là một điều căn bản rất quan trọng trong một chính phủ cộng hòa. Vì vậy, những người soạn thảo và tham dự viên trong hội nghị thành lập hiến pháp sẽ định rõ và thiết lập quyền lợi bầu cử này trong Hiến Pháp. Nếu để cho quốc hội Liên Bang thỉnh thoảng tự điều chỉnh quyền lợi này, nó sẽ là một bất ổn vì lý do kể trên. Nếu giao nó cho bộ lập pháp của các Tiểu Bang, nó cũng lại là một bất ổn vì lý do trên và thêm một lý do nữa là bộ lập pháp của Liên Bang sẽ liên hệ quá nhiều đến chính phủ Tiểu Bang trong khi nó chỉ nên dựa vào dân chúng mà thôi. Nếu tóm lược tất cả những tiêu chuẩn khác nhau trong các Tiểu Bang thành một tiêu chuẩn mẫu, nó sẽ tạo nên những bất mãn của một vài Tiểu Bang và những khó khăn cho hội nghị thành lập hiến pháp. Điều khoản đã quyết định trong hội nghị là định nghĩa của quyền đi bầu phải hài lòng tất cả các tiêu chuẩn hiện hành hoặc tương lai của mọi Tiểu Bang. Nó sẽ an toàn hơn cho chính phủ Liên Bang Hoa Kỳ bởi vì nếu quyền đi bầu cử nằm trong hiến pháp của Tiểu Bang, nó sẽ không bị thay đổi bởi chính quyền hoặc dân chúng của các Tiểu Bang để rồi phải chịu sự hạn chế về quyền lợi của chính họ trong Hiến Pháp Liên Bang.

Trong khi tư cách khả năng của các đắc cử viên được định nghĩ một cách lỏng lẻo bởi hiến pháp Tiểu Bang và thường giống nhau, nó lại được cân nhắc và sắp đặt một cách chặt chẽ bởi hội đồng hiến pháp Liên Bang. Một dân biểu phải từ 25 tuổi trở lên, phải làm công dân của nước cộng hòa Liên Bang Hoa Kỳ hơn 7 năm, phải là thường trú dân của Tiểu Bang mà người đó đại diện khi đắc cử, và khi tại chức người đó không được có các chức vụ khác trong nước cộng hòa Liên Bang Hoa Kỳ. Dưới những giới hạn hợp lý kể trên, cánh cửa của bộ phận này trong chính phủ liên bang sẽ mở ra cho tất cả những ai đạt đủ điều kiện, dân bản sứ hay dân nhập tịch, trẻ hay già, giàu hay nghèo, và theo bất cứ tôn giáo nào.

Nhiệm kỳ cho mỗi dân biểu sẽ được sẽ được xem xét theo một chiều hướng thứ hai từ chi nhánh này. Để trả lời một cách thích đáng cho điều khoản này, có hai câu hỏi cần được cân nhắc: một, bầu cử hai năm một lần trong trường hợp này sẽ an toàn hay không; hai, nó có cần thiết hoặc có ich hay không?

Trước hết, nếu yếu tố cần thiết cho quyền tự do là chính phủ phải có một quyền lợi chung với dân chúng, thì chi nhánh này của chính phủ phải có một sự liên hệ trực tiếp và một mối thương cảm mật thiết với dân chúng đó. Bầu cử thường xuyên chắc chắn sẽ là một chính sách duy nhất có thể duy trì sự lệ thuộc và thương cảm rất cần thiết này. Nhưng mức độ thường xuyên đúng đắn nhất của các cuộc bầu cử cho dân biểu không cần phải bị tính toán một cách tuyệt đối mà phải dựa trên những tình huống khác nhau liên quan đến nó. Chúng ta hãy tra cứu những kinh nghiệm trong quá khứ, một bản chỉ dẫn luôn cần được đi theo mỗi khi tìm được nó.

Hệ thống đại diện dân biểu để thay thế cho những cuộc gặp mặt các công dân đã được áp dụng một cách rất nhiều thiếu xót trong nhiều xã hội cổ xưa, nhưng chỉ đến thời kỳ cận đại, chúng ta mới có thể học hỏi được một vài thí dụ. Và ở đây, để tránh tìm kiếm một đề tài quá mập mờ và rườm rà, chúng ta cần giới hạn trong một vài ví dụ nổi tiếng và giống như trường hợp của chúng ta nhất . Ví dụ đầu tiên là Hạ Nghị Viện ở Anh quốc. Lịch sử của chi nhánh này trong hiến pháp Anh quốc , trước ngày Đại Hiến Chương Anh Quốc, rất khó hiểu để học hỏi. Sự tồn tại của nó đã là một câu hỏi giữa các nhà nghiên cứu chính trị. Những ghi chép mới nhất chứng nhận cho ta thấy các nghị viên thường chỉ họp một lần trong một năm chứ không phải họ được bầu mỗi năm. Mặc dù các cuộc họp thường niên này không có sự can thiệp nào từ các hoàng gia, sự gián đoạn quá dài và nguy hiểm sẽ bị ảnh hưởng và chiêu dụ từ những tham vọng của hoàng gia. Để chữa trị vấn đề này, một đạo luật được ban hành dưới triều đại của Vua Charles Đệ Nhị cấm sự gián đoạn này không được quá 3 năm. Khi Vua William Đệ Tam lên ngôi, một cuộc cách mạng đã xảy ra trong chính phủ và vấn đề này lại được tranh cãi để rồi quyền họp hành thường xuyên của nghị viện được tuyên bố là một trong những quyền lợi căn bản của dân chúng. Một đạo luật khác cũng được ban hành trong cùng triều đại đã định nghĩa lại chữ thường xuyên này là chu kỳ 3 năm cho mỗi hội nghị của nghị viện cho giống như đạo luật dưới thời Vua Charles Đệ Nhị. Sự thay đổi cuối cùng từ 3 đến 7 năm đã được giới thiệu vào đầu thế kỷ này dưới những cảnh báo trong sự kế vị của triều đại Hanover. Từ những bằng chứng này, để trói buộc các dân biểu với những quyền lợi của các cử tri, chu kỳ bầu cử nên không quá 3 năm. Và nếu chúng ta lý luận rằng quyền lợi của các cử tri đã không giảm xuống khi giảm chu kỳ bầu cử từ 7 năm xuống 3 năm, thì không lý gì quyền lợi này sẽ giảm nếu chúng ta giảm chu kỳ bầu cử xuống 2 năm như trong trường hợp của Hạ Nghị Viện của chính phủ Liên Bang.

Chuyện bầu cử của nước Ái nhĩ lan đến nay vẫn bị qui định theo chỉ thị của hoàng gia và ít khi lặp lại trừ khi có sự lên ngôi của hoàng đế mới hoặc những sự kiện bất ngờ. Nghị viện thành lập bởi Vua George Đệ Nhị đã tiếp tục hiện hành trong khoảng 35 năm dưới triều đại của chính vị vua này. Sự lệ thuộc của các dân biểu vào dân chúng chỉ có trong sự bầu cử của các cử tri để cung cấp những dân biểu mới vào các chỗ trống, hoặc trong một cuộc bầu cử tổng thể khi những sự kiện bất ngờ xảy ra. Vì vây, khả năng duy trì quyền lợi của cử tri ở nghị viện Ái nhĩ lan rất dễ dàng bị xiềng xích bởi sự kiểm soát của hoàng gia. Một trong những sự xiềng xích này, nếu tôi không nhầm, là chu kỳ bầu cử của nghị viện đã bị thay đổi thành 8 năm. Hậu quả của sự cải cách này ra sao sẽ phải chờ đợi cho thời gian trả lời. Thí dụ của chính quyền Ái nhĩ lan sẽ cho chúng ta một ít ánh sáng về vấn đề đang tranh cãi. Một bài học được rút ra là nếu dân Ái nhĩ lan có thể bảo vệ quyền lợi của họ dưới những bất lợi này, thì lợi thế của chu kỳ bầu cử hai năm sẽ dễ dàng bảo vệ các quyền lợi đó trong mối quan hệ xứng đáng giữa dân biểu và cử tri.

Bây giờ chúng ta hãy tóm tắt lại những nghiên cứu này. Những thí dụ của các nước trên đã quá trứ danh cho nên không cần phải nói đến nữa. Nguyên tắc của sự thay mặt cho dân chúng trong ban lập pháp của chính quyền đã thiết lập trong tất cả các nước trên. Tuy nhiên, sự khác biệt giữa những nước này nằm ở chu kỳ bầu cử của các dân biểu. Các chu kỳ bầu cử này khác nhau từ một đến bảy năm. Vì thế, từ tinh thần và hạnh kiểm của các dân biểu trước cuộc Cách Mạng dành độc lập cho đất nước này, chúng ta có lý do gì để sợ rằng chu kỳ bầu cử hai năm cho các dân biểu của Hạ Nghị Viện sẽ có hại cho quyền tự do của dân chúng? Tinh thần của các dân biểu đã lộ ra trong sự bắt đầu của công cuộc đấu tranh và đã đánh tan tất cả những trở ngại trên con đường dẫn đến nền độc lập nước nhà. Tinh thần này là một bằng chứng hùng hồn cho sự phồn thịnh của tự do khắp nơi cũng như giá trị và sự khuếch trương của nó. Những nhận xét trên cũng giữ vững lập trường của nó trong trường hợp của các tiểu bang với chu kỳ bầu cử ngắn hoặc dài như tiểu bang Virginia, một tiểu bang đầu tiên đã đứng lên chống lại sự chi phối của nước Anh đối với nghị viện của họ. Nó cũng là một tiểu bang đã đứng ra tán thành nghị quyết độc lập một cách công khai. Ở tiểu bang Virginia, nếu tôi không lầm, chu kỳ bầu cử của nghị viện là 9 năm. Ví dụ đặc biệt này được mang ra để chứng minh rằng quyền tự do của dân chúng sẽ không bị nguy hiểm trong chu kỳ bầu cử hai năm.

Kết luận cuối cùng cho những thí dụ kể trên sẽ được vững chắc hơn nếu tưởng nhớ lại 3 chi tiết sau. Chi tiết thứ nhất là bộ lập pháp của Liên Bang sẽ có một phần giống như quyền lập pháp tối cao trong nghị viện Anh quốc đã được thực hành trong các quốc hội thuộc địa và bộ lập pháp của Ái nhĩ lan. Nó là một tư tưởng rất có cơ sở và đáng tin cậy nếu được thực hiện trong câu ngạn ngữ “quyền hạn càng lớn bao nhiêu thì nhiệm kỳ của nó nên ngắn bấy nhiêu, và ngược lại, quyền hạn càng nhỏ bao nhiêu thì nhiệm kỳ của nó sẽ không nguy hiểm nếu được kéo dài.” Chi tiết thứ hai là bộ lập pháp Liên Bang không những nên bị ràng buộc bởi sự phụ thuộc vào dân chúng như ở những nước kể trên mà còn nên bị canh gác và kiểm tra bởi một vài bộ phận khác trong cơ quan lập pháp. Chi tiết thứ ba là không có sự so sánh giữa những công cụ của các nhánh cố định hơn trong chính phủ để chiêu dụ Hạ Nghị Viện phản lại trách nhiệm của nó đối với dân chúng và những phương thức để gây ảnh hưởng đến nhánh phổ biến sở hữu bởi những nhánh khác kể trên trong chính phủ. Với ít quyền hạn để lạm dụng, những dân biểu trong chính quyền tiểu bang sẽ khó bị cám dỗ và sẽ cảnh giác gấp hai lần.

PUBLIUS

Hãy chia sẻ bài viết này lên các mạng xã hội :Reddit! Del.icio.us! Mixx! Free and Open Source Software News Google! Live! Facebook! StumbleUpon! TwitThis Joomla Free PHP
Thảo luận
Thêm mới
Viết thảo luận
Tên:
Email:
 
Website:
Tiêu đề:
 
Hãy điền code chống spam mà bạn nhìn thấy trong ảnh trên.

!joomlacomment 4.0 Copyright (C) 2009 Compojoom.com . All rights reserved."

 

Khách đang xem

Hiện có 22 khách Trực tuyến

Thăm dò ý kiến

Ý kiến của bạn về Dự thảo Hiến pháp 2009
 

Thăm dò ý kiến 2

Nếu Đại hội Hiến pháp Diên hồng 2009 được tổ chức trong 1 tuần, vào khoảng tháng 8-12/2009 tại Singapore, bạn sẽ: