hienphapvietnam.org & tanhienphap.org

Thư liên bang số 8 PDF. In Email
Thư Liên Bang Hoa kỳ
Viết bởi Ban biên tập   
Thứ ba, 18 Tháng 8 2009 08:30

Những hậu quả của sự thù địch giữa các tiểu bang

Trích từ báo New York Packet
Thứ ba, ngày 20 tháng 11, năm 1787

Alexander Hamilton

Gửi nhân dân tiểu bang New York:

Một chân lý đã được chứng minh cho rằng một số tiểu bang, trong trường hợp bị chia rẽ, hoặc mối liên kết giữa họ đã được hình thành không dính líu đến sự sụp đổ của liên bang chung, sẽ khó tránh khỏi những thăng trầm của hòa bình và chiến tranh, của tình hữu nghị và sự thù hằn lẫn nhau mà đã rơi vào nhiều quốc gia láng giềng không được đoàn kết dưới một chính quyền, chúng ta hãy cùng bắt đầu giải quyết một chi tiết ngắn gọn của một số hậu quả sẽ hiện diện trong hoàn cảnh như vậy.

Chiến tranh giữa các tiểu bang, trong giai đoạn đầu của sự tồn tại riêng rẽ của chúng, sẽ đồng hành cùng với những hiểm họa lớn hơn nhiều so với khi nó ở trong những quốc gia mà ở đó lực lượng quân đội chính quy đã tồn tại lâu dài. Những quân đội có kỷ luật luôn luôn có mặt trên lục địa Châu âu, mặc dù chúng đã sinh ra những cái làm tổn hại đến quyền tự do và kinh tế, tuy nhiên, chúng đem lại thuận lợi đáng kể cho việc đáp trả những cuộc xâm lược bất ngờ không thể thực hiện được, và cho việc ngăn chặn sự tàn phá nhanh chóng thường đánh dấu tiến trình của cuộc chiến trước khi có sự hiện diện của chúng. Nghệ thuật xây dựng công sự cũng góp phần vào mục đích tương tự. Các quốc gia Châu âu được bao quanh bởi một loạt những nơi đã được củng cố để ngăn chặn sự xâm lược lẫn nhau. Các chiến dịch phải từ bỏ hai hoặc ba đơn vị đồn trú tiền tiêu, để đạt được việc xâm nhập vào bên trong lãnh thổ của kẻ thù. Những sự cản bước tương tự xảy ra ở mọi bước tiến quân, để làm cạn kiệt sức mạnh và trì hoãn tiến trình của kẻ xâm lược. Trước kia, một đội quân xâm lược sẽ lọt được vào trung tâm của một nước láng giềng gần như ngay khi nó nhận được tin tức tình báo phục vụ cho việc tiếp cận, nhưng giờ đây một lực lượng tương đối nhỏ của một quân đội có kỷ luật, làm nhiệm vụ phòng thủ, với sự hỗ trợ của những vị trí canh gác, là có thể cản bước, và cuối cùng là làm thất bại những cuộc tấn công một cách rất đáng kể. Lịch sử chiến tranh, ở nơi chiếm một phần tư Trái đất đó, không còn là lịch sử của các dân tộc bị đánh bại và các đế chế bị lật đổ nữa, mà là của những thành phố bị chiếm đóng và được chiếm lại, của những trận chiến mà chẳng giải quyết được vấn đề gì, của những sự rút lui mà có lợi ích nhiều hơn những chiến thắng, của nhiều nỗ lực nhưng thu được chẳng bao nhiêu.

Ở đất nước này, tình cảnh sẽ hoàn toàn bị đảo ngược. Sự đố kỵ của lực lượng quân đội sẽ kéo lùi họ càng lâu càng tốt. Việc thiếu hệ thống công sự, để cho các đường biên giới mở toang, sẽ tạo điều kiện cho sự xâm nhập. Chỉ với chút ít khó khăn, những bang đông dân cư sẽ tràn sang những bang láng giềng ít dân hơn họ. Sự xâm lược sẽ dễ dàng được thực hiện cũng như khó mà ngăn chặn được. Do đó, chiến tranh sẽ nổ ra lung tung và nhằm mục đích cướp bóc. SỰ CƯỚP BÓC và sự tàn phá bao giờ cũng theo bước chân của  những đội quân ô hợp. Những tai họa của những cá nhân sẽ tạo nên những nhân vật chính trong nhiều trường hợp mà sẽ tiêu biểu cho những thành tích chói lọi của quân đội chúng ta.

Bức tranh này không phải bị tô vẽ quá mức; mặc dù, tôi thú thật rằng, nó đã chẳng còn gì. Tính an toàn từ hiểm họa bên ngoài là người chỉ huy mạnh mẽ nhất của cách chỉ đạo quốc gia. Thậm chí tình yêu cháy bỏng của sự tự do, sau một thời gian, sẽ nhường đường cho tiếng gọi của nó. Sự tàn phá khủng khiếp đối với cuộc sống và tài sản vốn gắn liền với chiến tranh, nỗ lực không nghỉ và sự sợ hãi kèm theo trong hoàn cảnh hiểm họa luôn rình rập, sẽ bắt buộc các quốc gia phải gắn chặt với quyền tự do để đi đến sự yên bình và an toàn cho những thể chế mà có xu hướng phá bỏ quyền công dân và quyền chính trị của họ. Để an toàn hơn, rốt cuộc, họ trở nên sẵn sàng liều với việc ít tự do hơn.

Những thể chế được nói đến chủ yếu là NHỮNG QUÂN ĐỘI THƯỜNG TRỰC và những lực lượng bổ sung của lực lượng quân đội. Quân đội thường trực, nó được nói như vậy, không được chuẩn bị đầy đủ trong hiến pháp mới; và do đó suy ra là chúng có thể tồn tại theo các điều khoản của hiến pháp đó. Tuy nhiên, sự hiện diện của chúng, từ chính những điều khoản của lời tuyên bố, không hơn, thì còn phải bàn và không chắc chắn. Những lực lượng quân đội thường trực, nó có thể được phản hồi, chắc hẳn phải xảy ra như là hậu quả của sự tan rã của liên bang. Chiến tranh liên miên và sự sợ hãi thường trực, cần đến trạng thái luôn luôn sẵn sàng, sẽ sinh ra quân đội. Các bang yếu hơn hoặc các liên minh trước tiên sẽ trông cậy vào quân đội, để đặt bản thân họ vào một thế quân bình với những người láng giềng có uy lực hơn. Họ sẽ cố gắng để bổ khuyết sự ít ỏi về dân số và tài nguyên bằng một hệ thống quốc phòng hiệu quả và chính quy hơn, bằng một quân đội có kỷ luật, và bằng hệ thống công sự. Trong thời gian đó, họ buộc phải củng cố quyền hành pháp của chính phủ, trong đó hiến pháp của họ sẽ cần đến một định hướng tiến tới nền quân chủ. Đó là quy luật của chiến tranh để tăng thêm quyền hành pháp bằng cách hi sinh quyền lập pháp.

Những thủ đoạn đã được nói đến sẽ mau chóng đặt liên bang hoặc các liên minh đã sử dụng chúng vào lợi thế hơn so với những láng giềng của họ. Các bang nhỏ, hoặc những bang có ít lợi thế tự nhiên, dưới sự điều hành của những chính phủ mạnh mẽ, và với sự hỗ trợ của lực lượng quân đội có kỷ luật, thường chiến thắng các bang lớn, hoặc các bang có nhiều thuận lợi tự nhiên hơn, nhưng lại thiếu những lợi thế này. Không phải niềm kiêu hãnh mà cũng chẳng phải sự an toàn của các bang có thế lực hơn hoặc các liên minh buộc họ chấp nhận sự ưu việt mất thể diện và bất định này một cách lâu dài. Họ sẽ nhanh chóng phải sử dụng đến những tiềm lực giống như những thứ mà nó bị ảnh hưởng, để lấy lại sự vượt trội đã bị đánh mất. Do đó, trong một thời gian ngắn, chúng ta nên thấy trong mọi miền của đất nước này những cơ cấu giống nhau của chế độ chuyên quyền đã được thiết lập, những cái đã là tai họa cho Cựu thế giới. Ít nhất, đây là diễn biến tự nhiên của sự vật; và lý trí của chúng ta sẽ có khả năng đúng như là chúng bị điều chỉnh theo trình độ này một cách tương xứng.

Đây không phải là những kết luận mơ hồ được rút ra từ những khuyết điểm được cho là và có tính chất suy đoán trong hiến pháp, toàn bộ sức mạnh được trao vào tay một dân tộc, hoặc những người đại diện và đại biểu của họ, mà chúng là những kết luận đáng tin cậy, được rút ra từ sự phát triển tự nhiên và thiết yếu của những vấn đề mang tính con người.

Có lẽ, có người được hỏi, bằng cách phản đối ý kiến này, rằng tại sao quân đội thường trực lại không nhảy ra khỏi những tranh chấp điên cuồng của nền Cộng hòa Hi Lạp cổ đại?  Những câu trả lời khác nhau, thỏa đáng như nhau, có thể được đưa ra cho câu hỏi này. Những đức tính cần cù của con người ngày nay, miệt mài trong việc theo đuổi lợi ích, và nhiệt tình với sự cải thiện của nền nông nghiệp và thương mại, không còn phù hợp với hoàn cảnh của một đất nước toàn lính, là hoàn cảnh thực sự của nhân dân của những nền cộng hòa đó. Của cải trong ngân khố quốc gia, được nhân lên rất nhanh chóng bởi vàng,  bạc và những thủ đoạn làm ăn, khoa học tài chính, là kết quả của thời kỳ hiện đại, phù hợp với những tập quán của các nước, đã sản sinh ra một cuộc cách mạng toàn diện về phương thức của chiến tranh, và trao lại một đội quân có kỷ luật, khác biệt với thể xác của những cư dân, những người bạn không thể tách rời của sự thù địch thường xuyên.

Có sự khác nhau xa giữa lực lượng quân đội ở một đất nước ít khi bị bộc lộ bởi hoàn cảnh của nó đối với những sự xâm lăng từ bên trong, và ở một nước mà thường bị nhòm ngó và sợ hãi những sự xâm lăng này. Những người cầm quyền trước đây có thể có một lý do hợp lý, thậm chí nếu họ thích, để duy trì một lực lượng quân đội hùng hậu cả về sau này. Trường hợp thứ nhất, lực lượng quân đội này hiếm khi bị đưa vào những hoạt động của việc phòng thủ nội địa, nhân dân không bị nguy hiểm bởi việc tách khỏi sự phụ thuộc vào quân sự. Các điều luật không quen với những sự giảm nhẹ, ủng hộ tình trạng khẩn cấp về mặt quân sự; nhà nước dân sự vẫn đầy sức mạnh, không bị sụp đổ mà cũng không bị chết bởi những nguyên tắc hay những xu hướng của nước khác. Sự ít ỏi của quân đội trao lại sức mạnh tự nhiên của cộng đồng một người chiến thắng, và những công dân, không quen với việc tìm kiếm sự bảo vệ bởi sức mạnh quân sự, hoặc phải chịu sự đàn áp, không thích mà cũng không sợ quân lính; họ nhìn chúng với tinh thần của sự phục tùng ghen ghét như một điều không muốn nhưng phải chấp nhận, và sẵn sàng đứng lên để chống lại  thế lực mà họ tin rằng có thể được đưa ra làm thiệt hại quyền lợi của họ. Lực lượng quân đội dưới những hoàn cảnh như thế có thể hỗ trợ đắc lực cho cơ quan hành chính địa phương để ngăn chặn nạn bè phái, hoặc dân chúng tự phát, hoặc sự nổi dậy; nhưng nó sẽ không có khả năng buộc sự xâm phạm chống lại những nỗ lực đoàn kết của những con người vĩ đại của một dân tộc.

Ở một đất nước có tình thế khó khăn vừa được nói đến ở trên, điều trái ngược đã xảy ra. Những mối đe dọa liên tục của sự hiểm nghèo buộc chính phủ luôn phải được chuẩn bị để đẩy lùi nó; lực lượng quân đội của họ phải đủ lớn cho việc phòng thủ ngay lập tức. Sự cần thiết liên tục đối với sự phục vụ của họ đã nâng vai trò của  người lính, và làm giảm địa vị của thường dân một cách tương ứng. Một chính quyền quân sự trở nên mạnh hơn chính quyền dân sự. Cư dân của các vùng lãnh thổ, thường là chiến trường, không thể tránh khỏi phải chịu đựng những sự xâm phạm thường xuyên đến quyền hạn của họ, làm yếu đi ý thức của họ về những quyền đó; và nhân dân bị mua chuộc bằng địa vị để coi quân lính không chỉ là những người bảo vệ họ, mà còn như bề trên của họ nữa. Việc chuyển trạng thái từ khuynh hướng này sang việc coi họ như những ông chủ, cũng không xa và cũng không khó; nhưng rất khó để thuyết phục một dân tộc với những ấn tượng như vậy, để tạo ra một sự kháng cự rõ rệt và có hiệu quả đối với sự chiếm đoạt được hỗ trợ bởi sức mạnh quân sự.

Vương quốc Anh đã rơi vào tình huống thứ nhất. Một đảo quốc, và một lực lượng hải quân hùng mạnh, bảo vệ nó trong một cuộc đọ sức chống lại những khả năng có thể của sự xâm lược của nước ngoài, không cần đến một lực lượng quân sự đông đảo ở bên trong Vương quốc. Một lực lượng vừa đủ để chống lại một cuộc tấn công bất ngờ, cho đến khi lực lượng dân quân có thời gian để tập hợp và có mặt, là tất cả những gì được cho là cần thiết. Chính sách quốc gia chẳng có lý do để yêu cầu , mà cũng không phải chịu ý kiến của công luận, một số lượng lớn quân lính cho lực lượng phòng thủ bên trong. Một thời gian dài trước đây, không có nhiều chỗ cho sự hoạt động của những động cơ khác, được liệt kê ra như là những hậu quả của cuộc chiến bên trong. Sự diễn đạt thích hợp kỳ lạ của hoàn cảnh, ở trình độ cao, đã đóng góp cho việc giữ gìn sự tự do mà đất nước đó tận hưởng cho đến nay, thay vì những sự mua chuộc và tham nhũng đang thịnh hành. Ngược lại, nếu nước Anh nằm trên lục địa, và bị buộc, như là nó chắc hẳn sẽ bị, trong trường hợp đó, thiết lập lực lượng quân sự tại chỗ được mở rộng giống như những nước lớn khác ở Châu âu, nước Anh, cũng giống như họ, bằng nhiều khả năng, cho đến hôm nay, sẽ là nạn nhân của quyền lực tuyệt đối thuộc về một người. Có thể, mặc dù không dễ, rằng nhân dân của hòn đảo đó đã bị biến thành nô lệ bởi các thế lực khác; nhưng nó không bị như thế bởi năng lực của một lực lượng quân đội không đáng kể luôn được duy trì bên trong Vương quốc.

Nếu chúng ta đủ sáng suốt để giữ gìn liên minh, qua nhiều thế hệ, chúng ta có thể tận hưởng lợi thế giống như vậy trong hoàn cảnh được bảo vệ trong tình trạng được cách ly. Châu âu thì rất xa chúng ta. Những vùng đất thuộc địa của họ trong vùng lân cận của chúng ta sẽ có khả năng tiếp tục rất mất cân đối về sức mạnh để có thể gây ra cho chúng ta bất cứ sự phiền toái nguy hiểm nào. Ở điểm này, việc mở rộng lực lượng quân đội sẽ không cần thiết cho nền an ninh của chúng ta. Nhưng nếu chúng ta bị mất đoàn kết, và những bang chủ chốt hoặc là vẫn bị chia rẽ, hoặc, cái dễ xảy ra nhất, là bị co cụm lại với nhau trong hai hoặc ba liên minh, thì trong một thời gian ngắn, chúng ta sẽ ở trong tình thế của những thế lực như ở Châu âu – sự tự do của chúng ta sẽ là nạn nhân của những cách thức bảo vệ bản thân chúng ta chống lại tham vọng và sự đố kỵ của nhau.

Đây là một ý tưởng không hề hời hợt và viển vông, mà chắc chắn và có sức thuyết phục. Nó xứng đáng là sự suy xét nghiêm túc và chín chắn nhất của bất cứ người nào khôn ngoan và chân thật của bất cứ đảng phái nào. Nếu những con người như thế có sự ngập ngừng nhất định, và suy ngẫm một cách bình thản về tầm quan trọng của ý tưởng thú vị này; nếu họ nhìn vào và suy ngẫm tất cả những quan điểm của nó, và lần theo tất cả những hậu quả của nó, họ sẽ không do dự từ bỏ những phản đối tầm thường đối với hiến pháp, sự từ bỏ sẽ có thể xảy ra đặt dấu chấm hết cho liên minh. Những bóng ma vô hình vụt qua trước những trí tưởng tượng hoảng loạn của một vài kẻ thù của nó sẽ nhanh chóng nhường chỗ cho những hình thức có thật hơn của những nguy cơ, thực tế, chắc chắn và ghê gớm.

PUBLIUS.

Hãy chia sẻ bài viết này lên các mạng xã hội :Reddit! Del.icio.us! Mixx! Free and Open Source Software News Google! Live! Facebook! StumbleUpon! TwitThis Joomla Free PHP
Thảo luận
Thêm mới
Viết thảo luận
Tên:
Email:
 
Website:
Tiêu đề:
 
Hãy điền code chống spam mà bạn nhìn thấy trong ảnh trên.

!joomlacomment 4.0 Copyright (C) 2009 Compojoom.com . All rights reserved."

 

Khách đang xem

Hiện có 20 khách Trực tuyến

Thăm dò ý kiến

Ý kiến của bạn về Dự thảo Hiến pháp 2009
 

Thăm dò ý kiến 2

Nếu Đại hội Hiến pháp Diên hồng 2009 được tổ chức trong 1 tuần, vào khoảng tháng 8-12/2009 tại Singapore, bạn sẽ: