| Thư Liên bang số 39 |
|
|
|
| Thư Liên Bang Hoa kỳ | |||||
| Viết bởi Ban biên tập | |||||
| Thứ tư, 09 Tháng 9 2009 10:39 | |||||
|
James Madison Gửi nhân dân bang New York: Bài viết trước đã đưa ra những quan sát với ý định đưa ra một cuộc điều tra vô tư về dự thảo chính phủ đã thông báo trong hội nghị lập hiến, giờ đây chúng ta tiến tới việc thực hiện phần cam kết đó của chúng tôi. Vấn đề đầu tiên đưa ra là, liệu thể chế và diện mạo chung của chính quyền là hoàn toàn cộng hòa. Rõ ràng rằng không một dạng nào khác sẽ có thể dung hòa được các đặc tính của người dân Mỹ; với các nguyên tắc cơ bản của Cuộc cách mạng; hay với việc quyết định ngay thẳng cổ vũ cho tất cả những ai tôn thờ tự do, để dựa mọi thử nghiệm chính trị của chúng ta vào khả năng xây dựng chế độ tự quản của loài người. Do đó, nếu như kế hoạch của hội nghị bị chệch khỏi đặc tính cộng hòa, những người chủ trương cho nó phải từ bỏ kế hoạch đó vì không còn có thể bào chữa được. Vậy thì cái gì là những đặc điểm của thể chế cộng hòa? Câu trả lời cho câu hỏi này phải rõ ràng, không trở lại với các nguyên tắc, mà bằng việc sử dụng thuật ngữ của các nhà chính trị trong hiến pháp của các tiểu bang khác nhau, điều thỏa đáng sẽ không bao giờ được tìm thấy. Hà lan, nơi không có dấu vết nào của quyền lực tối cao được bắt nguồn từ dân, hầu như đã được chấp nhận hoàn toàn thuộc về thể chế cộng hòa. Danh nghĩa tương tự đã được trao cho Venice, nơi quyền lực tuyệt đối bên trên một tổ chức dân chúng lớn được sử dụng bởi một nhóm nhỏ gồm những quý tộc cha truyền con nối, theo phương thức chính xác nhất. Balan, một hỗn hợp của tầng lớp quý tộc và chế độ quân chủ ở dạng tồi tệ nhất của chúng, đã được đề cao bằng tên gọi tương tự. Chính quyền Anh quốc, chỉ có một nhánh cộng hòa, kết hợp với một tầng lớp quý tộc cha truyền con nối và quân chủ, đã thường xuyên được xếp vào danh sách những nền cộng hòa với sự sai sót tương tự. Những ví dụ này, gần như không giống nhau cũng như khác với một nền cộng hòa chính cống, chỉ ra sự thiếu chính xác cực kỳ về thuật ngữ đã được sử dụng trong các văn kiện chính trị. Nếu chúng ta viện dẫn một tiêu chí cho các nguyên tắc khác nhau trong đó các thể chế chính quyền khác nhau được dựng lên, chúng ta có thể địng nghĩa nền cộng hòa, hay ít nhất có thể dành cho cái tên đó là một chính quyền nhận được tất cả các quyền lực của nó trực tiếp hay gián tiếp từ đa số nhân dân, và được quản trị bởi những người đang nắm giữ chức vụ của họ trong một giai đoạn hữu hạn với niềm vui thích, hay với thái độ tin cậy. Điều QUAN TRỌNG với chính phủ này là nó phải được bắt nguồn từ bộ phận xã hội rông lớn, không phải từ một tỷ lệ không đáng kể, hay một giai cấp được hưởng đặc ân của nó; cũng không phải một nhúm những quý tộc chuyên chế, sử dụng việc đàn áp của họ theo sự ủy quyền của họ, có thể khao khát được xếp vào các thể chế cộng hòa, và đòi hỏi chính phủ của họ được mang tên cộng hòa danh giá. Điều kiện ĐỦ đối với một chính phủ như vậy là những người quản trị nó được bổ nhiệm, hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp bởi nhân dân; và rằng họ nắm giữ những công việc mà họ được đặt vào theo từng nhiệm kỳ được định rõ một cách chính xác; nếu không mọi chính phủ ở Hoa Kỳ, cũng như tất cả các chính quyền phổ biến khác đã hoặc có thể được tổ chức tốt hoặc thực thi tốt, sẽ bị mất danh giá do đặc điểm cộng hòa. Theo hiến pháp tất cả các tiểu bang trong Liên bang, một số quan chức này hay khác của chính phủ chỉ được bổ nhiệm gián tiếp bởi nhân dân. Theo phần lớn các hiến pháp, chính người đứng đầu chính phủ được bổ nhiệm như vậy. Và theo một hiến pháp, mô hình bổ nhiệm này được mở rộng cho một trong các nhánh phối hợp của lập pháp. Cũng theo tất cả các hiến pháp, nhiệm kỳ của các quan chức cao nhất được mở rộng đến một giai đoạn nhất định, tới vài năm, và trong nhiều trường hợp, cả bên trong bộ phận hành pháp và lập pháp. Lại theo các điều khoản của hầu hết các bản hiến pháp, cũng như theo các ý kiến được chấp nhận và đứng đắn nhất về chủ đề này, các thành viên của ban tư pháp phải duy trì công việc của họ với cư xử tin cậy trong nhiệm kỳ không thay đổi. Bằng việc so sánh bản Hiến pháp dự thảo bởi hội nghị với tiêu chuẩn cố định ở đây, chúng tôi ngay lập tức nhận thấy rằng bản hiến pháp đó là phù hợp với nó trong ý nghĩa khắt khe nhất. Hạ viện, giống như ít nhất một nhánh của tất cả các cơ quan lập pháp các tiểu bang, được bầu trực tiếp bởi đa số nhân dân. Thượng viện, giống như Quốc hội hiện nay, và thượng viện bang Maryland, nhận được sự bổ nhiệm gián tiếp từ nhân dân. Tổng thống được bầu gián tiếp bởi sự lựa chọn của người dân, theo như trong phần lớn các tiểu bang. Thậm chí tư pháp, với tất cả các quan chức khác của Liên bang sẽ được chọn thông qua việc lựa chọn từ xa của chính nhân dân, như trong một vài tiểu bang, khoảng thời gian được bổ nhiệm cũng phù hợp với tiêu chuẩn cộng hòa, và với mô hình các hiến pháp tiểu bang. Hạ nghị viện được bầu cử theo chu kỳ, như trong tất cả các tiểu bang; và cho giai đoạn 2 năm một như tiểu bang South Carolina. Thượng viện được bầu chọn cho giai đoạn 6 năm một; là nhiều hơn 1 năm so với Thượng viện của bang New York và Virginia. Tổng thống được bổ nhiệm theo nhiệm kỳ 4 năm; như quan tổng trấn được bầu cho 3 năm ở New York và Delaware, và 2 năm ở South Carolina. Ở các tiểu bang khác bầu cử diễn ra hàng năm. Tuy nhiên ở một vài tiểu bang, không có điều khoản hợp hiến nào được thiết lập đối với việc buộc tội người đứng đầu nhà nước. Và ở Delaware và Virginia ông ta không thể bị buộc tội cho đến khi rời khỏi chức vụ. Tổng thống của Hoa Kỳ không thể bị buộc tội vào bất kỳ lúc nào trong suốt thời gian cầm quyền của ông ta. Các việc xét xử được ngưng trong nhiệm kỳ để cho các vị trí họ nắm giữ được vận hành tốt, vì điều đó là không thể tranh cãi. Nhiệm kỳ của các quan chức dạng bộ trưởng nhìn chung, sẽ được luật pháp điều chỉnh, phù hợp với hoàn cảnh và tiền lệ của các hiến pháp tiểu bang. Có thể đòi hỏi thêm bằng chứng khác nữa cho hình thái cộng hòa của hệ thống này, điều trước tiên mà chúng ta có thể được nhận thấy là lệnh cấm tuyệt đối việc sử dụng các tước hiệu cao quý của nó, cả theo điều luật của các chính phủ tiểu bang và liên bang; và việc bảo đảm rõ ràng thể chế cộng hòa của nó cho mỗi tiểu bang. Những người chống lại bản hiến pháp đề nghị nói, “Nhưng điều đó không đủ để cho hội nghị tôn trọng triệt để thể chế cộng hòa. Với sự thận trọng tương tự, họ phải duy trì được thể chế LIÊN BANG, xem liên bang như một LIÊN MINH gồm các tiểu bang có chủ quyền; thay cho cái mà họ đã định hình nên một chính quyền QUỐC GIA xem liên bang như là HỢP NHẤT của các tiểu bang.” Và điều được đặt ra với quyền lực nào mà việc đổi mới cơ bản và dũng cảm này đã được cam kết? Việc xử lý vấn đề liên quan đến phản đối này đòi hỏi điều đó phải được tra xét với độ chính xác nào đó. Nếu không thẩm tra độ chính xác của những khác biệt về điều mà sự phản đối dựa vào, sẽ cần phải đánh giá chính xác về áp lực của nó, thứ nhất để bảo đảm tích hiện thực của chính phủ đang được bàn bạc; thứ hai để xem xét hội nghị lập hiến đã được cho phép đến mức độ nào để đặt ra chính phủ này; và thứ ba là nhiệm vụ mà họ có bổn phận với đất nước đến chừng mực.có thể đưa ra mọi khiếm khuyết của quyền lực thông thường. Đầu tiên, để bảo đảm tính hiện thực của chính quyền, nó có thể được xem xét trong quan hệ với cơ sở mà nó đã được thiết lập; với những nguồn mà từ đó các quyền lực thông thường của nó được đưa ra; với sự điều hành những quyền lực đó; với phạm vi của chúng; và với quyền lực mà theo đó những thay đổi trong tương lai của chính phủ phải được đưa vào. Khi xem xét mối quan hệ đầu tiên, một mặt dường như rằng Hiến pháp đã được thiết lập dựa trên sự đồng thuận và phê chuẩn của nhân dân Mỹ, đưa ra bởi những người đại diện của dân đã bầu chọn cho mục đích đặc biệt này; nhưng mặt khác là sự đồng thuận và phê chuẩn này phải được nhân dân đưa ra, không giống như những cá nhân tạo nên một quốc gia toàn vẹn, mà được tạo nên bởi những tiểu bang độc lập riêng rẽ với liên bang mà chúng lần lượt thuộc về. Đó có thể là sự đồng ý và phê chuẩn của một vài tiểu bang, bắt nguồn từ quyền lực tối cao trong mỗi tiểu bang, quyền lực của chính nhân dân. Do đó, đạo luật thiết lập Hiến pháp sẽ không phải là đạo luật QUỐC GIA mà là luật LIÊN BANG. Rằng đó sẽ là một đạo luật liên bang không phải luật quốc gia, như các thuật ngữ này đã được hiểu bởi những người phản đối; vì được hình thành từ rất nhiều tiểu bang độc lập mà không phải từ một quốc gia hợp nhất, đạo luật đó của nhân dân trở nên rõ ràng bằng việc xem xét đơn giản, rằng nó được hình thành do quyết định của ĐA SỐ người dân liên bang, không phải từ người dân của ĐA SỐ tiểu bang. Nó phải xuất phát từ việc ĐỒNG THUẬN của một vài tiểu bang tham gia vào đó, cũng không khác với sự đồng ý thông thường của họ hơn dạng đã được thể hiện, không phải vì quyền lập pháp, mà bởi quyền lực của chính nhân dân. Nhân dân đã quan tâm đến văn kiện này như là việc thành lập quốc gia, nguyện vọng của đa số toàn thể nhân dân của hợp chủng quốc Hoa Kỳ sẽ ràng buộc thiểu số, theo phương thức tương tự giống như đa số trong mỗi tiểu bang phải ràng buộc thiểu số; và nguyện vọng của đa số hẳn phải được xác định hoặc bởi việc so sánh các lá phiếu riêng, hoặc bởi việc xem xét ý nguyện của đa số các tiểu bang như là bằng chứng của nguyện vọng của đa số người dân Hoa Kỳ. Không điều luật nào trong những luật này được chấp nhận. Bằng việc phê chuẩn Hiến pháp, mỗi tiểu bang được xem như những đơn vị có chủ quyền, độc lập với tất cả các tiểu bang khác, và chỉ bị ràng buộc bởi chính đạo luật tự nguyện của nó. Trong mối quan hệ này thì Hiến pháp mới nếu thiết lập được, sẽ là hiến pháp LIÊN BANG, không phải là hiến pháp QUỐC GIA . Liên quan tiếp theo là quan hệ với các nguồn mà từ đó những quyền lực thông thường của chính phủ phải được sinh ra. Hạ viện sẽ nhận được các quyền lực của nó từ nhân dân Mỹ; và người dân sẽ được đại diện theo cùng tỷ lệ, cùng nguyên tắc như họ đại diện trong cơ quan lập pháp của một tiểu bang riêng. Ở mức độ này thì chính phủ là QUỐC GIA, không phải là LIÊN BANG. Mặt khác, Thượng viện sẽ nhận được quyền lực của nó từ các tiểu bang, giống như các đoàn thể chính trị ngang hàng: và những quyền lực này sẽ được đại diện trên nguyên tắc tôn trọng tính bình đẳng trong Thượng viện, như hiện chúng đang có trong quốc hội. Với mức độ như vậy, chính phủ sẽ là LIÊN BANG, không phải QUỐC GIA. Quyền lực của hành pháp sẽ được sinh ra từ một nơi rất phức hợp. Bầu cử trực tiếp Tổng thống phải được thực hiện bởi các tiểu bang với những đặc trưng chính trị của chúng. Những lá phiếu giao cho chúng với một tỷ lệ phức hợp, một phần coi chúng như những đoàn thể khác biệt ngang hàng, một phần như những thành viên không ngang hàng trong cùng một đoàn thể. Hơn nữa, bầu cử cuối cùng phải được thực hiện bởi nhánh đó của lập pháp bao gồm những người đại diện của quốc gia; nhưng theo đạo luật đặc biệt này họ phải được tính vào dạng những sự ủy quyền riêng, từ rất nhiều đoàn thể khác biệt và ngang hàng về chính trị. Trên khía cạnh này của chính phủ, dường như nó thuộc về một đặc tính hỗn hợp ít nhất là thể hiện các đặc tính LIÊN BANG cũng nhiều như tính chất QUỐC GIA. Liên quan đến việc ĐIỀU HÀNH CỦA CHÍNH PHỦ, sự khác biệt giữa chính phủ liên bang và quốc gia được giả thiết ở đây, là trong chính phủ liên bang các quyền lực thực thi dựa trên các đoàn thể chính trị hình thành nên liên bang, với khả năng chính trị của họ; trong chính phủ quốc gia thì dựa trên các công dân riêng biệt cấu thành quốc gia, với năng lực cá nhân của họ. Bằng việc xem xét Hiến pháp theo tiêu chí này, nó rơi vào đặc tính QUỐC GIA, mà không phải LIÊN BANG, mặc dầu có lẽ không thật hoàn chỉnh như đã được hiểu. Trong một vài trường hợp, và nhất là trong việc xem xét những cuộc tranh luận có thể là với các đảng phái của các tiểu bang nào đó, họ phải được xem xét và khởi kiện theo khả năng tập hợp và năng lực chính trị của chính họ. Trên khía cạnh này, diện mạo quốc gia của chính phủ có vẻ như đã bị làm cho méo mó bởi một vài đặc tính liên bang. Song nhược điểm này có lẽ là không thể tránh khỏi trong bất kỳ dự thảo nào; và sự điều hành của chính phủ dựa vào nhân dân, với năng lực cá nhân của họ, theo các văn bản thông thường và quan trọng nhất của nó, có thể định rõ một cách tổng quát dựa trên mối quan hệ này, đó là chính phủ QUỐC GIA. Nhưng nếu chính phủ là quốc gia liên quan đến việc ĐIỀU HÀNH các quyền lực của nó, nó thay đổi diện mạo của mình một lần nữa khi chúng ta suy ngẫm về nó trong mối quan hệ với PHẠM VI quyền lực của nó. Ý tưởng của một chính quyền quốc gia bao hàm trong đó không chỉ một quyền lực bên trên các công dân riêng lẻ, mà còn là một uy quyền tối cao không hạn định bên trên tất cả mọi người và sự vật, đến mức chúng chỉ là các đối tượng của một chính phủ hợp pháp. Trong một dân tộc đã hợp nhất thành quốc gia, quyền lực tối cao này được giao phó hoàn toàn cho cơ quan lập pháp của quốc gia. Trong những cộng đồng hợp nhất vì các mục đích riêng, nó được giao phó một phần cho cơ quan lập pháp trung ương và một phần cho các cơ quan lập pháp các thành phố. Ở trường hợp đầu, tất cả các quan chức địa phương phụ thuộc quan chức cao nhất; và có thể bị kiểm soát, định hướng, hoặc bãi chức một cách tùy ý. Ở trường hợp sau, các quan chức địa phương hay thành phố hình thành quyền lực tối cao với những tỷ lệ độc lập và khác biệt, với phạm vi tương ứng của họ không còn tùy thuộc vào quyền lực trung ương, mà quyền lực trung ương, trong phạm vi ảnh hưởng của nó tùy thuộc vào họ. Trong mối liên quan này thì chính phủ đề nghị không thể được coi là chính quyền QUỐC GIA; bởi vì phạm vi quyền hạn của nó chỉ mở rộng tới các đối tượng được liệt kê nhất định, và phó mặc cho một vài tiểu bang chủ quyền còn lại bất khả xâm phạm bên trên mọi đối tượng khác. Sự thật là trong những cuộc tranh luận liên quan đến biên giới giữa hai phạm vi quyền lực, cuối cùng tòa án, được thiết lập bên dưới chính quyền trung ương, phải quyết định. Nhưng điều này không làm thay đổi các nguyên tắc của vụ việc. Quyết định phải được thiết lập một cách công bằng, tuân theo các nguyên tắc của Hiến pháp; tất cả những biện pháp đề phòng thông thường và có giá trị pháp lý nhất phải được đưa ra để bảo đảm tính công bằng này. Một số tòa án loại này rõ là cần thiết để ngăn cản bị lôi kéo vào việc phân định bằng chiến tranh và sự tan rã của các hiệp ước; và rằng nó phải được thiết lập bên dưới chính quyền trung ương hơn là dưới các chính quyền địa phương, hay nói một cách phù hợp hơn là nó có thể được thiết lập một cách an toàn, duy nhất dưới chính quyền trung ương, là vị trí không bao giờ bị chống phá. Nếu chúng ta xem xét Hiến pháp theo mối liên quan cuối cùng của nó với quyền mà theo đó những sửa đổi phải được thiết lập, chúng ta thấy nó không phải là QUỐC GIA hoàn toàn mà cũng không phải LIÊN BANG hoàn toàn. Là chính phủ quốc gia hoàn toàn thì quyền lực tối cao sau cùng sẽ ở trong tay ĐA SỐ nhân dân của Liên bang; và quyền lực này sẽ phải luôn luôn có hiệu lực để thay đổi và bãi bỏ chính phủ được nó thiết lập, giống như quyền lực của đa số trong mọi thể chế quốc gia. Mặc khác, là chính phủ liên bang, sự đồng tình của mỗi tiểu bang trong Liên bang sẽ cần thiết cho tất cả những thay đổi sẽ bắt buộc mọi tiểu bang tuân theo. Phương thức được dự thảo của hội nghị đưa ra không dựa vào cái nào trong hai nguyên tắc này. Bằng việc đòi hỏi nhiều hơn một đa số và các nguyên tắc. Với việc đòi hỏi hơn một đa số, và đặc biệt là bằng việc tính toán tỷ lệ của các TIỂU BANG, mà không phải là những CÔNG DÂN, chính phủ đi chệch khỏi đặc tính QUỐC GIA và tiến dần tới đặc tính LIÊN BANG; bằng việc làm cho sự đồng thuận của ít hơn toàn bộ các tiểu bang có thẩm quyền, nó lại mất đặc tính LIÊN BANG và chia sẻ đặc tính QUỐC GIA. Do đó, Hiến pháp đề nghị chính xác không phải là liên bang và cũng không phải là quốc gia, mà là một phức hợp của cả hai. Về nền tảng nó là liên bang, không phải quốc gia: về nguồn gốc mà các quyền lực thông thường của chính phủ được sinh ra, nó có một phần là liên bang, một phần là quốc gia; về sự thực thi các quyền lực này, nó là quốc gia, không phải liên bang; về phạm vi của quyền lực, một lần nữa nó là liên bang, không phải quốc gia; và cuối cùng về phương thức thể hiện thẩm quyền đưa ra những sửa đổi bổ sung, nó không hoàn toàn là liên bang cũng không hoàn toàn là quốc gia. PUBLIUS
Powered by !JoomlaComment 4.0alpha3
!joomlacomment 4.0 Copyright (C) 2009 Compojoom.com . All rights reserved." |