hienphapvietnam.org & tanhienphap.org

Thư Liên bang số 78 PDF. In Email
Thư Liên Bang Hoa kỳ
Viết bởi Ban biên tập   
Thứ tư, 09 Tháng 9 2009 10:47

Ngành Tư pháp
McLEAN'S Edition, New York
Alexander Hamilton

Gửi người dân bang Nữu Ước
Chúng ta sẽ bàn ở đây các vấn đề về tòa án trong bộ máy nhà nước mới. Khi phân tích về các hạn chế của nhà nước liên bang hiện tại, sự cần thiết phải có một bộ máy tư pháp liên bang đã được khẳng định một cách rõ ràng. Ở đây chúng tôi không đi vào phân tích những tiền đề dẫn đến sự cần thiết đó mà tập trung giải quyết câu hỏi ngành tư pháp liên bang cần được tổ chức như thế nào.

Viêc tổ chức bộ máy của ngành tư pháp liên bang liên quan đến một số các vấn đề sau: 1/ Cách thức bổ nhiệm các thẩm phán; 2/Nhiệm kỳ hoạt động của các thẩm phán; 3/ Sự phân bổ các thẩm phán tại các toà và quan hệ của họ với nhau

Vấn đề thứ nhất, cách thức bổ nhiệm thẩm phán được thức hiện giống như viêc chỉ định các quan chức của Liên bang, điều này đã được thảo luận đầy đủ tại hai thư quốc gia trước nên chúng tôi sẽ không nhắc lại ở đây. Vấn đề thứ hai, thời gian làm việc của các thẩm phán tại tòa liên bang, trước hết đó là thời gian họ làm việc tại văn phòng, ngoài ra là thời gian chuẩn bị các tài liệu và làm các việc khác có liên quan đến nhiệm vụ của mình.

Theo dự thảo thỏa thuận chung, mọi thẩm phán được Hợp chủng quốc Hoa kỳ chỉ định sẽ giữ chức vụ này chừng nào họ vẫn còn “KHẢ NĂNG CỐNG HIẾN”, điều này là phù hợp với hiến pháp của phần lớn các quốc gia thành viên đồng thời đã được tranh luận bởi các bên phản biện và không có ý kiến nào đối kháng cho rằng nó sẽ hạn chế tư duy và khả năng phán xử của các thẩm phán. Quy định được giữ chức vụ thẩm phán tòa liên bang chừng nào vẫn còn “khả năng cống hiến” là một minh chứng cho sự tiến bộ của việc tổ chức nhà nước trong thực tiễn. Trong thế chế quân chủ quy định này là một công cụ hoàn hảo để bảo vệ sự chuyên quyền của hoàng gia, trong thể chế cộng hòa, nó lại trở thành một công cụ tốt để bảo vệ sự độc lập và giảm các áp lực từ bên ngoài đối với những thẩm phán đại diện. Và đây cũng chính là phương pháp tốt nhất có thể áp dụng đối với bất kỳ chính phủ nào nhằm đảm bảo tính ổn định, đúng đắn, công bằng trong việc thực thi luật pháp

Khi nhìn nhận về sự phân chia quyền lực trong việc tổ chức bộ máy nhà nước chúng ta đều thấy rằng Tư pháp về bản chất luôn là nhánh ít nguy hiểm nhất đối với các quyền chính trị được nêu trong hiến pháp vì nó ít có khả năng xâm phạm các quyền này. Bộ máy hành pháp không những quản lý các nguồn lực mà còn nắm trong tay bộ máy chuyên chính. Cơ quan lập pháp không chỉ thông qua các kế hoạch chi tiêu của quốc gia mà còn làm ra các đạo luật điều chỉnh các quyền lợi và nghĩa vụ của người dân. Trong khi đó ngành tư pháp không nắm trong tay bộ máy chuyên chính cũng không dính dáng đến quản lý tiền bạc của quốc gia, nói cách khác họ không có quyết định nào ảnh hưởng trực tiếp đến sự hùng mạnh hay thịnh vượng của xã hội. Nhiệm vụ của ngành tư pháp thuần túy là xét xử, ngay cả việc thực hiện các phán quyết của tòa án cũng phải dựa vào các công cụ điều hành của bộ máy hành pháp.

Trên đây là một số phân tích giúp ta đi điến một số những kết luận quan trọng. Rõ ràng, ngành tư pháp là bộ phận yếu nhất trong 3 cơ quan quyền lực của nhà nước tam quyền phân lập.
1/ Ngành tư pháp không thể ảnh hưởng đến lập pháp và hành pháp, do đó cần phải giúp đỡ họ bảo vệ mình trước những ảnh hưởng của hai cơ quan này. Điều đó cũng chứng minh rằng, mặc dù có thể có những vụ án oan riêng lẻ diễn ra tại các tòa án, song nhìn chung ngành tư pháp không có ảnh hưởng đến sự tự do nói chung của người dân, Tôi luôn nhấn mạnh rằng ngành tư pháp là một thực thể khác biệt đối với bộ máy hành pháp và lập pháp đồng thời nhất trí với quan điểm “Sẽ không có tự do nếu như quyền lực của thẩm phán không được tách rời với các quyền lực lập pháp và hành pháp”.

2/ Mặt khác chúng ta cũng nhận thấy rằng tự do ít bị đe dọa bởi ngành tư pháp nhưng lại dễ bị xâm phạm bởi hai ngành lập pháp và hành pháp, do vậy liên bang cần phải đảm bảo sự độc lập của tòa án đối với Chính quyền và Quốc hội. Tuy nhiên một sự độc lập bề ngoài hay danh nghĩa chưa đủ, do bản chất yếu hơn của ngành tư pháp làm cho nó luôn có nguy cơ phải chịu áp lực ảnh hưởng bởi hai nhánh còn lại của bộ máy nhà nước, do vậy không có gì đảm bảo tốt hơn cho sự độc lập và củng cố sức mạnh của ngành tư pháp bằng cách bổ nhiệm các các quan tòa cố định. Đây là biện pháp rất hiệu quả có thể xem là thành trì cho ngành tư pháp và an ninh của cộng đồng.

Tính độc lập tổng thể của tòa án là một đặc tính chủ đạo giúp giải quyết vấn đề hạn chế của hiến pháp. Một hiến pháp hạn chế có thể được hiểu là một bản hiến pháp mở ra một số ngoại lệ nhất định cho các nhà làm luật, ví dụ như họ có thể không thông qua sắc lệnh tịch thu tài sản nếu như không có các tiền lệ về luật điều chỉnh trước đó. Hạn chế này chỉ có thể được giải quyết trong thực tế thông qua các tòa trung gian với nhiệm vụ chính là xem xét tuyên bố tất cả các luật đi ngược với tinh thần của hiến pháp là vô hiệu lực. Đây chính là lý do cần phải dành các đặc quyền để bảo vệ sự độc lập của các thẩm phán.

Việc tòa án được quyền tuyên bố các đạo luật là vô hiệu lực do có xung đột với hiến pháp có thể đưa đến những lo ngại về việc ngành tư pháp có quyền lực cao hơn các nhà lập pháp. Điều này dẫn đến việc cần có quy định là tòa tuyên bố một đạo luật vô hiệu phải ở cấp cao hơn cơ quan đã ban hành ra đạo luật đó. Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong mọi bản hiến pháp Hoa kỳ nên chúng tôi sẽ trình bày vắn tắt thêm dưới đây về nền tảng lý luận dẫn đến sự ra đời của nguyên tắc này.

Một tiền đề mà chúng ta công nhận là mọi đạo luật của các nhà chức trách do dân cử ra mà đi ngược với tinh thần mục tiêu nhiệm vụ của họ đều là vô hiệu. Không một đao luật nào được đi ngước lại với hiến pháp. Điều này cũng cùng một nguyên tắc không một dân biểu nào đứng trên các cử tri của họ, người dân được không những được làm những gì luật pháp cho phép mà còn được làm những gì mà luật pháp không cấm

Nếu để các nhà lập pháp cũng đồng thời là người phán quyết về tính hợp hiến thì cũng có nghĩa để cho họ tự xét xử về các hoạt động của mình và do vậy việc làm luật, mở rộng giải thích luật đều do các nhà lập pháp áp đặt đối với các cơ quan khác, nó không thể đáp ứng được tiền đề đặt ra trong hiến pháp là luật pháp phải thể hiện ý nguyện của toàn dân. Ngoài ra nó cũng có thể làm phát sinh nguy cơ các nhà làm luật tạo ra những đạo luật nhằm bảo vệ quyền lợi của chính họ thay vì quyền lợi của những người mà họ đại diện. Chính vì vậy cần phải có tòa án đóng vai trò trung gian giữa người dân và những nhà lập pháp nhằm đảm bảo các nhà lập pháp không vượt quá quyền hạn của minh. Việc giải thích ý nghĩa của luật là thẩm quyền hoạt động của tòa án. Hiến pháp là văn bản được các thẩm phán sử dụng như một đạo luật cơ bản, họ có nhiệm vụ giải thích cắt nghĩa Hiến pháp cũng như bất kỳ một đạo luật nào khác của các cơ quan lập pháp. Nếu có xung đột về luật pháp giữa hai đạo luật, đạo luật nào có hiệu lực cao hơn sẽ được ưu tiên. Hiến pháp sẽ có hiệu lực cao hơn luật, nghị định, thể hiện nguyên tắc ý chí của toàn dân được đặt cao hơn ý chí của những người đại diện.

Quyền hạn trên đây của tòa án không có ý nghĩa rằng họ được đặt trên các nhà lập pháp mà chỉ nhằm đảm bảo quyền lợi của nhân dân được đặt lên trên cả hai cơ quan này và nó cho thấy khi các nhà lập pháp đưa ý chí của mình vào các đạo luật mà trái với ý chí của nhân dân thì các thẩm phán với quyền hạn được quy đinh bởi hiến pháp cần phải đại diện cho dân chúng. Các quy định về thẩm quyền của thẩm phán phải được nêu trong hiến pháp là đạo luật tối thượng chứ không phải một đạo luật nào khác

Hoạt động diễn giải luật của tòa án là một hoạt động khá tế nhị, các trường hợp hai đạo luật xung đột nhau không hiếm gặp trong thực tế. Trong trường hợp này tòa án sẽ cắt gọt và hợp nhất ý nghĩa cũng như phạm vi ứng dụng. Nhờ vậy họ có thể thống nhất các đạo luật, giải quyết các xung đột, trong các trường hợp không thể thống nhất được một cách triệt để họ sẽ đưa ra phạm vi áp dụng của luật này và các ngoại lệ đối với luật khác để tránh các xung đột trực tiếp về sau. Một nguyên tắc đã được nhiều tòa án áp dụng trong việc xác định hiệu lực của các văn bản luật có xung đột là luật nào ra đời sau được ưu tiên áp dụng so với các luật được ban hành trước nó. Tuy nhiên đây chỉ là một thông lệ ra đời từ thực tiền xét xử, không được quy định trong bất cứ văn bản nào. Thông lệ này không do các nhà lập pháp đặt ra nhưng được các thẩm phán công nhận trong quá trình xét xử vì nó hợp lý và phù hợp với thực tế trong việc giải thích các đạo luật được ban hành vởi các cấp tương đương.

Đối với các xung đột của các văn bản luật do các cơ quan không cùng thẩm quyền ban hành thì nguyên tắc chung là văn bản do cơ quan có thẩm quyền cao hơn sẽ được ưu tiên áp dụng và theo cùng một nguyên tắc, bất cứ đạo luật nào xâm phạm hiến pháp đều phải được các thẩm phán bãi bỏ

Tòa án cũng có nguy cơ thông qua hoạt động xét xử ảnh hưởng đến việc lập pháp với việc quyết định áp dụng các đạo luật xung đột hay thực hiện giải thích một đạo luật, nói cách khác đi thay vì xét xử họ lại lồng ý chí của mình vào các đạo luật. Trong trường hợp này họ hòa lẫn với hoạt động lập pháp và không còn sự phân quyền giữa hai hoạt động nói trên. Để tránh nguy cơ này xảy ra và đảm bảo sự độc lập trong xét xử, một lập luận được áp dụng là trao cho các thẩm phán quy chế hoạt động nhiệm kỳ vô thời hạn - đến chừng nào họ còn khả năng cống hiến, vì điều này sẽ giúp cho họ giữ được tính độc lập và công bằng để thực hiện các nhiệm vụ mà không bị ảnh hưởng bới các thế lực khác. Sự độc lập của các thẩm phán cũng là cần thiết để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ hiến pháp và nhân quyền trước các ý chí cá nhân, các liên minh… đôi khi những tư tưởng mang tính cấp tiến của một nhóm người có thể dẫn đến những cải tiến nguy hiểm trong Chính phủ và tạo ra sự chống đối của nhóm thiểu số. Mặc dù vậy, tôi tin rằng những người bạn của bản dự thảo hiến pháp sẽ không bao giờ liên kết với kẻ thù

3/ Nguyên tắc cơ bản của một nhà nước cộng hòa là cho phép người dân có thể tham gia vào việc thay đổi hoặc xóa bỏ những quy định của hiến pháp khi nào những quy định của nó không còn phục vụ lợi ích của đông đảo quần chúng. Tuy nhiên nguyên tắc này có thể bị lợi dụng khi các đại diện của dân chúng liên kết tạo thành đa số để thay đổi hiến pháp không đúng với các quy định của hiến pháp hiện tại, tòa án sẽ cũng bị áp lực để đồng lõa với các vi phạm dạng này nhiều hơn khi họ chịu ảnh hưởng của cơ quan lập pháp. Nhiệm vụ giữ được sự công bằng của các quan tòa là rất khó khăn khi họ luôn phải chịu tác động của các nhà lập pháp đại diện cho đa số trong xã hội.

Không chỉ giới hạn ở vai trò bảo vệ hiến pháp khỏi bị vi phạm, sự độc lập của các thẩm phán còn giúp hạn chế các xu hướng xấu tức thời trong xã hội. Trong một số trường hợp các thẩm phán chỉ bảo vệ quyền lợi của các nhóm, các công dân trước các đạo luật sai trái thông qua đó khẳng định tính đúng đắn của luật pháp và làm giảm các xung đột về luật. Điều này không chỉ giúp điều hòa các đạo luật đã được thông qua mà còn đóng vai trò kiểm tra trong quá trình thông qua các đạo luật nhờ đó hạn chế các toan tính ban hành các đạo luật đi ngược với lợi ích của số đông của các nhà làm luật. Đây là một đặc tính được tính toán nhằm tạo ảnh hưởng đến tính chất của bộ máy nhà nước mà chỉ một số ít người nhận ra.

Lợi ích của việc cử các thẩm phán có nhiệm kỳ suốt đời đã được thấy ở một số bang, họ là những người được quý trọng, có đạo đức và công minh không vụ lợi. Tuy nhiên không ai có thể biết trước việc ngày mai mình có thể trở thành nạn nhân của sự không công bằng, diều mà họ là người chiến thắng hôm nay do vậy thẩm phán cũng như bất cứ ai khác có xu hướng bị ảnh hưởng bởi hoàn cảnh và tâm lý. Để hạn chế nguy cơ này hiến pháp quy định các thẩm phán không làm theo nhiệm kỳ hữu hạn. Sự chỉ định thẩm phán theo nhiệm kỳ hữu hạn sẽ làm các thẩm phán phụ thuộc vào người chỉ định họ và do vậy làm mất đi tính độc lập cần thiết. Thử hình dung nếu trao quyền bổ nhiệm thẩm phán theo định kỳ cho một trong hai cơ quan hành pháp hoặc tư pháp thì sẽ rất nguy hiểm vì thẩm phán sẽ có xu hướng dễ dãi với cơ quan bổ nhiệm mình, nếu trao quyền bổ nhiệm thẩm phán định kỳ cho cả hai cơ quan sẽ làm phát sinh rủi ro thẩm phán cố gắng làm hài lòng cả hai cơ quan này, nếu trao quyền bổ nhiệm cho người dân hoặc cử tri đại diện thì lại làm việc này lại tạo ra một cơ chế quá cồng kềnh trái với tiền đề chỉ trung cầu dân ý các vấn đề liên quan đến hiến pháp và luật.

Còn một lý do xác đáng khác cho việc duy trì nhiệm kỳ thẩm phán suốt đời xuất phát từ đòi hỏi thực tế của công việc. Thông thường, khối lượng luật lệ khổng lồ là một trong những điểm bất tiện của một nhà nước tự do. Để tránh nhưng xung đột luật nhạy cảm ở tòa án, các luật cần thiết phải được giới hạn bởi các nguyên tắc, tôn chỉ nhất định góp phần chỉ rõ phạm vi áp dụng của nó trong các trường hợp trước đây, đây là một vấn đề khởi nguồn nhiều tranh cãi và có thể tạo ra nhiều áp dụng tai hại, nó đòi hỏi thẩm phán phải có một quá trì học hỏi để tích lũy đủ các hiểu biết trong lĩnh vực này để tránh tạo ra những lỗ hổng về mặt luật pháp. Do đặc tính phức tạp của nghề nghiệp nên chỉ có rất ít người có khả năng hiểu biết về luật pháp để đạt tới trình độ thẩm phán. Các yêu cầu về nghiệp vụ cộng thêm các chuẩn mực về đạo đức liêm chính càng làm giảm số ứng cử viên cho vị trí này.

Những lập luận này cho thấy Nhà nước không có nhiều lựa chọn cho các ứng cử viên đủ tiêu chuẩn và việc chỉ định thẩm phán theo nhiệm kỳ hữu hạn sẽ làm nản lòng các ứng cử viên muốn rời khu vực kinh tế tư nhân để tìm một vị trí trong thành tư pháp, do đó có thể làm ngành tư pháp yếu đi về mặt chuyên môn. Với các điều kiện hiện tại và ngay cả với các điều kiện dự kiến trong tương lai của đất nước, những hạn chế của việc bổ nhiệm thẩm phán suốt đời dường như ít hơn so với các cảm giác ban đầu, đồng thời nó là lựa chọn tốt hơn cả trong cân nhắc so sánh đối với các khả năng khác.

Xét một cách tổng thể, việc vận dụng các mô hình hiến pháp dựa trên nguyên tắc “Hành xử công minh” của các thẩm phán là một việc làm khôn ngoan, về nhiệm kỳ vô thời hạn, tuy còn nhiều ý kiến phê phán nhưng các giải pháp khác của những người phản đối còn đưa đến một chính phủ khiếm khuyết hơn. Kinh nghiệm của nước Anh cũng giúp chúng ta một ví dụ về một bản hiến pháp có chất lượng
Publius 

Hãy chia sẻ bài viết này lên các mạng xã hội :Reddit! Del.icio.us! Mixx! Free and Open Source Software News Google! Live! Facebook! StumbleUpon! TwitThis Joomla Free PHP
Thảo luận
Thêm mới
Viết thảo luận
Tên:
Email:
 
Website:
Tiêu đề:
 
Hãy điền code chống spam mà bạn nhìn thấy trong ảnh trên.

!joomlacomment 4.0 Copyright (C) 2009 Compojoom.com . All rights reserved."

 

Khách đang xem

Hiện có 3 khách Trực tuyến

Thăm dò ý kiến

Ý kiến của bạn về Dự thảo Hiến pháp 2009
 

Thăm dò ý kiến 2

Nếu Đại hội Hiến pháp Diên hồng 2009 được tổ chức trong 1 tuần, vào khoảng tháng 8-12/2009 tại Singapore, bạn sẽ: