| Dân chủ và đạo đức, dân chủ LÀ đạo đức |
|
|
|
| Dân chủ | |||||
| Viết bởi Dr Tran | |||||
| Thứ ba, 02 Tháng 6 2009 03:58 | |||||
|
Nguồn: http://plato.stanford.edu/entries/democracy/ ------------------------------------------- Thuyết Dân chủ Chuẩn mực (Normative Democratic Theory) liên hệ đến các nền tảng đạo đức của Dân chủ và các thể chế Dân chủ, khác với Thuyết Dân chủ Miêu tả và Giải thích (Descriptive and Explanatory Democratic Theory). Thuyết này không đưa ra ngay một nghiên cứu khoa học về các xã hội được gọi là Dân chủ. Thuyết chỉ nhằm cung cấp một nguồn suy luận và chuẩn mực hóa về khi nào và tại sao Dân chủ là một ước vọng đạo đức, bao gồm các tiêu chuẩn đạo đức nhằm soi đường để xây dụng các thể chế Dân chủ. Đương nhiên, Thuyết Dân chủ Chuẩn mực tự bản thể bao gồm nhiều ngành học và cần đến kết quả từ chính trị học, xã hội học, kinh tế học, để đưa ra được các sự chỉ dẫn thực thể này. Bài này, về Thuyết Dân chủ Chuẩn mực, tập trung chú ý vào bốn vấn đề riêng biệt. Trước tiên, bài này sẽ phác thảo đại cương về các phương pháp tiếp cận khác nhau về câu hỏi tại sao Dân chủ, về mặt đạo đức mà nói, lại đáng ao ước như vậy. Thứ hai, bài này khảo sát câu hỏi về điều gì là hợp lý để kỳ vọng từ các công dân trong các xã hội Dân chủ. Vấn đề này là trung điểm cho việc thẩm định các Thuyết Dân chủ Chuẩn mực, như chúng ta sẽ thấy. Một nhóm ý kiến khá lớn cho rằng phần lớn nội dung Thuyết Dân chủ Chuẩn mực không phù hợp với điều chúng ta có thể kỳ vọng một cách hợp lý từ các công dân. Bài này cũng thảo luận về cách thiết kế các thể chế Dân chủ, khi liên quan đến các vấn đề nổi cộm từ khái niệm về tư cách, quyền, và bổn phận công dân. Thứ ba, bài này phân tích các bản tổng kết khác nhau về các đặc điểm đặc thù của sự bình đẳng trong các quá trình đại diện trong một thể chế Dân chủ. Hai phần cuối trình bày bản chất đa ngành của Thuyết Dân chủ Chuẩn mực. Thứ tư, bài này bàn luận về đề tài khi nào các thể chế Dân chủ có quyền lực, có thể có hay không, và cũng bàn về các khái niệm khác nhau về giới hạn của quyền lực Dân chủ. 1. Định nghĩa Dân chủ 2. Hợp thức hóa Dân chủ 1. ĐỊNH NGHĨA DÂN CHỦ Từ "Dân chủ" liên quan đại thể đến "một phương pháp trong đó một nhóm người nào đó cùng quyết định, với đặc điểm là có sự bình đẳng trong các người tham gia vào giai đoạn ban đầu trong quyết định tập thể cuối cùng". Bốn khía cạnh của định nghĩa này nên được nhắc đến. Thứ Nhất, Dân chủ liên quan đến việc lập quyết định tập thể, trong đó tất cả các thành viên phải tuân thủ các quyết định lập nên do và cho toàn tập thể đó. Thứ hai, trong tập thể đó sẽ có nhiều nhóm khác nhau tham gia vào tiến trình Dân chủ. Do đó sẽ có Dân chủ trong gia đình, các đoàn thể tự nguyện, công ty, cũng như các quốc gia và các tổ chức liên quốc gia và toàn cầu. Thứ ba, Dân chủ không cần phải luôn luôn được chuẩn mực hóa, vì trong nhiều trường hợp Dân chủ có thể chấp nhận rằng đó là một điều không tốt lắm nếu có Dân chủ trong một số trường hợp cá biệt nào đó, trong hoàn cảnh nào đó. Do đó, Dân chủ không thể trả lời cho tất cả các câu hỏi về Dân chủ Chuẩn mực. Thứ tư, quyền bình đẳng như được đòi hỏi trong các thể chế Dân chủ có thể có tình trạng cao và thấp, chứ không thể luôn luôn bất biến. Đó có thể là một sự bình đẳng chính thức trong đó có cuộc bầu một người - một phiếu cho các vị đại biểu trong một hội đồng nơi các ứng cử viên tranh cử cho cùng một chức vụ. Hoặc có thể vững chắc hơn, bao gồm bình đẳng trong các tiến trình tranh luận và xây dựng các nhóm liên hiệp bảo vệ các giá trị dân chủ. "Dân chủ" có thể bao gồm bất cứ các nhóm kinh tế, xã hội, chính trị như vậy. Cũng có thể bao gồm sự tham gia trực tiếp của các thành viên trong một xã hội, xã đoàn nào đó có thể quyết định luật pháp và chính sách trong xã hội, hoặc bao gồm sự tham gia của các thành viên đó qua việc cho họ chọn lựa đại biểu để làm quyết định chung. Chức năng của Thuyết Dân chủ Chuẩn mực không phải là để giải quyết các câu hỏi về định nghĩa của Dân chủ, nhưng để quyết định xem điều nào, nếu có, của các hình thức Dân chủ có thể là các ước vọng đạo đức và khi nào, và bằng cách nào. Thí dụ, Joseph Schumpeter biện luận (1956, chương XXI), khá mạnh mẻ, rằng chỉ một phương cách rất chính thức về Dân chủ trong đó các công dân bầu trong một tiến trình bầu cử có mục đích chọn ra thành phần ưu tú nhất cạnh tranh lẫn nhau (e.g. chỉ các thành phần ưu tú nhất cạnh tranh với nhau mà thôi, dân chúng chỉ có thể bầu một trong các nhóm này) mới là ước vọng đạo đức, trong khi một kiểu mẫu Dân chủ trong đó ngầm chứa đựng một tham vọng bình đẳng tuyệt đối (e.g. ai cũng có thể ra ứng cử) sẽ rất nguy hiểm.
Một số người khác biện luận rằng Dân chủ không là điều nên ao ước gì cả. Để thẩm định các sự biện luận trên đây, chúng ta phải quyết định giá trị của nhiều nguyên tắc khác nhau và quan niệm về nhân văn và xã hội trong đó các giá trị này hiện hữu. II. HỢP THỨC HÓA DÂN CHỦ Chúng ta có thể thẩm định Dân chủ theo ít nhất hai phương diện khác nhau: theo kết quả, bằng cách so sánh kết quả của việc có Dân chủ với các phương pháp lập quyết định chính trị khác; hoặc bằng phân tích các phẩm chất trong bản thể Dân chủ, thí dụ, tự bản thể Dân chủ có phải đã có sự công bằng trong các quyết định trên các vấn đề mà các công dân bất đồng ý với các quyết định đó? 2.1. Công cụ Dân chủ 2.1.1 Các Công cụ Phục vụ cho Dân chủ Hai loại công cụ rất lợi ích thường được cho rằng do Dân chủ mà ra: (a) các luật lệ và chính sách nói chung khá tốt và (b) sự tăng tiến trí tuệ, phẩm giá, của mọi người tham gia vào quá trình Dân chủ. John Stuart Mill tranh luận rằng một phương pháp Dân chủ lập pháp tốt hơn các phương pháp bất Dân chủ trong ba cách: chiến lược, trí thức, và qua tăng tiến phẩm giá của các công dân Dân chủ (Mill, 1861, Chương 3). Về CHIẾN LƯỢC, Dân chủ có lợi thế vì thúc đẩy các người lập quyết định phải tính đến lợi ích, quyền lực, và ý kiến của đa số quần chúng trong xã hội. Vì Dân chủ cung cấp quyền lực chính trị cho mọi người, nhiều người được kể đến và có ảnh hưởng hơn là dưới các chế độ quý tộc và quân chủ.
Về TRÍ TUỆ, Dân chủ được cho rằng là phương pháp lập quyết định tối ưu nhất, trên căn bản rằng đó là một điều nói chung rất đáng tin cậy nếu các thành viên được giúp tận tình để họ khám phá ra các quyết định đúng. Bởi vì Dân chủ đem tuyệt đại đa số quần chúng vào tiến trình lập quyết định, Dân chủ có thể sử dụng nhiều nguồn thông tin và thẩm định có tính chỉ trích về luật pháp và chính sách. Việc lập quyết định một cách Dân chủ thường được đặt trên nhiều tin tức có được về lợi ích quần chúng và cơ cấu tạo nên rất cần thiết để tăng tiến các lợi ích đó.
Nhiều người phê chuẩn Dân chủ trên nền tảng của mệnh đề rằng Dân chủ có tác động tốt đẹp đến nhân cách. Mill và Rousseau cho rằng Dân chủ có khuynh hướng làm quần chúng đứng lên đấu tranh cho chính họ hơn là các phương cách quản trị khác bởi vì Dân chủ làm cho các quyết định tập thể tùy thuộc vào quần chúng hơn là các chính phủ thuộc giới quý tộc hay quân sự. Vì vậy, trong các xã hội Dân chủ, các cá nhân được khuyến khích nên tự chủ nhiều hơn. Thêm vào đó, Dân chủ có khuynh hướng làm quần chúng suy nghĩ cẩn thận và có lý trí hơn vì nếu họ làm như vậy thì có thể đem lại các sự thay đổi trong các sự việc họ quan tâm đến. Cuối cùng, một số tranh luận rằng Dân chủ có khuynh hướng tăng trưởng phẩm giá đạo đức của công dân. Khi các công dân tham gia vào tiến trình lập quyết định, họ phải lắng nghe người khác, họ phải giải thích các ý tưởng của họ cho người khác và họ bị buộc phải suy nghĩ phần nào trong địa vị và với quyền lợi của người khác.
Một số người lập luận rằng các kết quả về nhân cách như trên cũng có khuynh hướng nâng cao giá trị của lập pháp. Một xã hội với các người lập quyết định có tính tự chủ, lý trí, và đạo đức cao thì có nhiều cơ may, cơ hội, ngành lập pháp sẽ tốt đẹp hơn một xã hội bị cai trị bởi một nhân vật chỉ lo thu vén cho riêng họ hoặc một nhóm nhỏ người cai trị quần chúng như nô lệ và không còn khả năng phản kháng. Nhiều kiến thức chi tiết về các kết quả của các thể chế chính trị có thể được dùng để phân biệt, tạo thuận lợi cho một số (a) loại thế chế Dân chủ đặc thù nào đó hoặc (b) các sự biến cải các thể chế nào đó. Thí dụ như tại Hoa kỳ, James Madison biện luận theo hướng có lợi cho một chính phủ trung ương mạnh mẻ trên nền tảng rằng các chính quyền địa phương hay đàn áp số người thiểu số (Madison, Hamilton và Jay 1788, trang 10). Đương nhiên, sự xác đáng của bất cứ lời biện luận kể trên đều tùy thuộc vào sự thật hoặc tính hiệu lực của các quan điểm còn tồn tại có liên hệ đến công lý và lợi ích công cộng, cũng như các lý thuyết tạo ra kết quả cho các thể chế khác nhau. 2.1.2. Các Công cụ Chống lại Dân chủ Không phải tất cả các luận chứng đều cho rằng mọi Công cụ có thể dùng cho Dân chủ đều thích hợp cho Dân chủ. Plato (Republic, Quyển VI) biện luận rằng Dân chủ thấp kém hơn các hình thức khác của quân chủ, quý tộc và ngay cả các nhóm đầu sỏ cầm quyền trên căn bản rằng Dân chủ có khuynh hướng xói mòn sự chuyên nghiệp cần thiết trong các xã hội được quản trị đúng đắn. Trong một nền Dân chủ, Plato viết, một số người có biệt tài thắng các cuộc tranh cử ngoài ra không có tài gì khác cuối cùng sẽ chi phối chính trị Dân chủ. Dân chủ thường nhấn mạnh biệt tài này trong khi đè bẹp các tài năng cần thiết dùng để quản trị các xã hội một cách thích hợp. Lý do là vì đa số cử tri không có năng lực cho phép họ suy nghĩ cao xa hơn các vấn đề khó khăn trong chính trị. Nhưng để thắng cử hoặc thông qua một điều luật nào đó, các chính trị gia phải cần đến sự nhận định điều nào là đúng, là sai, từ những cử tri không đủ năng lực phán đoán này. Do đó, quốc gia sẽ bị dẫn dắt bởi những ý tưởng rất kém cõi, bị lãnh đạo bởi các nhân vật có tài thao túng và lấy lòng cử tri để lên nắm chính quyền. Hobbes (1651, chương XIX) lập luận rằng Dân chủ thua kém quân chủ vì Dân chủ ấp ủ các mối bất đồng, bất ổn định giữa các người có liên hệ. Nhưng điều ông ta nghi ngại không đặt trên quan niệm rằng đa số quần chúng không đủ khôn ngoan để hiểu chính trị. Quan điểm của ông là các công dân và ngay cả chinh trị gia đều không có cảm nhận trách nhiệm cho chất lượng lập pháp bởi vì không ai làm thay đổi đáng kể kết quả của việc lập quyết định. Hậu quả là các mối lo ngại của quần chúng không được tập trung vào chính trị, và các chính trị gia thành công chỉ do tạo ra các lời kêu gọi giả dối để có thêm quyền lực, nhưng tất cả đều thiếu sự khích lệ để quan tâm đến các quan điểm thật sự tốt đẹp cho lợi ích chung. Từ đó một cảm giác thiếu trách nhiệm cho thành quả sẽ bào mòn các điều lợi ích chung mà các chính trị gia từng quan tâm, và đưa đẩy họ tạo ra các lời kêu gọi chỉ nhằm vào lợi ích bè phái, cục bộ, trong khi làm chia rẽ quốc gia. Đối với Hobbes, do đó, Dân chủ có hệ quả độc hại trên các thành viên tham gia, các chính trị gia, và từ đó lên phẩm chất các thành quả đạt được qua việc lập quyết định tập thể. Một vài người trong số họ muốn thị trường tự do kiểm soát hầu hết mọi việc, trên căn bản rằng các chính trị gia trong các thể chế Dân chủ tạo ra bất hiệu quả kinh tế nghiêm trọng. Các phiên bản dung hòa hơn thuộc các lập luận này đã được dùng để biện minh cho việc sửa đổi các thể chế Dân chủ. 2.1.3. Nền móng cho Thuyết Công cụ Phục vụ hoặc Chống Dân chủ Các người theo thuyết công cụ cho rằng các lời lập luận cho và chống lại tiến trình Dân chủ là các căn bản duy nhất trên đó việc thẩm định hoặc so sánh Dân chủ với các hình thức khác của việc lập quyết định chính trị được thực hiện. Có một vài loại lập luận khác nhau về thuyết công cụ. Một loại lập luận đặt trên một loại thuyết về đạo đức nào đó. Thí dụ chủ nghĩa đơn phương cổ điển đơn giản là không có chỗ trong lý thuyết giá trị căn bản của nó cho các tư tưởng về bản chất công bằng, tự do, hoặc quan trọng của một sự phân phối đồng đều quyền hành chính trị. Điều quan tâm duy nhất của chủ nghĩa này về tính hữu dụng tối đa được hiểu như thỏa mãn khoái lạc và ước vọng bảo đảm rằng thuyết này chỉ có thể cung cấp các lời lập luận về công cụ cho hoặc chống lại Dân chủ. Và có nhiều thuyết đạo đức thuộc loại này. Nhưng người ta không cần phải là một người theo chủ nghĩa kết quả trên hết để lập luận có lợi cho thuyết công cụ Dân chủ. Có nhiều lập luận có lợi cho Dân chủ có liên quan trực tiếp đến câu hỏi về Dân chủ và việc lập quyết định tập thể nói chung. Một lập luận nọ cho rằng quyền lực chính trị bao gồm việc thực thi quyền lực của một số người trên một số người khác. Và lập luận này cho rằng việc áp đặt quyền hành của một người lên một người khác chỉ có thể được biện minh khi việc này dùng để bảo vệ các lợi ích và quyền hạn của người được áp đặt. Vì vậy không một việc phân phối quyền hành chính trị nào có thể bao giờ được biện minh ngoại trừ khi liên quan đến chất lượng kết quả tiến trình lập quyết định chính trị. Vài lập luận khác đặt câu hỏi về sự nhất quán của tư tưởng cho rằng các tiến trình lập quyết định tập thể về bản thể luôn luôn công bằng. Thí dụ, lý thuyết chọn lựa xã hội chất vấn tư tưởng cho rằng có thể có một hàm số lập quyết định công bằng có thể chuyển đổi một số ưu tiên cá nhân thành một ưu tiên tập thể hợp lý. Không một thông lệ chung chung thỏa mãn các giới hạn hợp lý có thể được sáng tạo để có thể chuyển đổi một số ưu tiên cá nhân thành một ưu tiên tập thể hợp lý. Và điều này được dùng để chứng minh rằng các quy trình Dân chủ không thể công bằng tự bản thể (Riker 1980, trang 116). Dworkin lập luận rằng tư tưởng về bình đẳng, đối với ông ta là nguồn cội của công lý xã hội, không thể được giải trình một cách chắc nịch và đáng tin cậy khi phải giải quyết vấn đề phân phối quyền lực chính trị cho mọi thành viên trong xã hội. Sự liên hệ giữa các chính trị gia và công dân không thể tránh khỏi việc gây ra bất bình đẳng, vì vậy không thể tự bản thể có công bằng và công lý (Dworkin 2004, chương 4 [phát hành lần đầu năm 1987]). Trong các tác phẩm sau, Dworkin đã rút lại chủ nghĩa công cụ thuần túy lúc ban đầu (Dworkin 2000, chương 10 [phát hành lần đầu năm 1999]).
Powered by !JoomlaComment 4.0alpha3
!joomlacomment 4.0 Copyright (C) 2009 Compojoom.com . All rights reserved." |